~かもしれないĐã học ở Minna bài 32
Góc Soumatome: かもしれない nối thẳng sau danh từ và gốc tính từ な, không có だ ở giữa (休みかもしれない, 静かかもしれない). Đề hay gài bằng dạng thừa だ, hoặc đặt nó cạnh きっと; vì chỉ là một khả năng, かもしれない hợp với もしかしたら hơn.
Xem lại Minna bài 32
~そうだĐã học ở Minna bài 43, 47
Góc Soumatome: cùng là そうだ nhưng hai nghĩa nối khác nhau: “trông có vẻ” (Bài 43) đi với gốc ます hay gốc tính từ (おいしそう), còn “nghe nói” (Bài 47) đi sau thể thường đầy đủ (おいしいそう). Đề hay đưa cả hai dạng; hãy xem người nói đang tận mắt thấy hay đang kể lại tin nghe được.
Xem lại Minna bài 43Xem lại Minna bài 47
~だろう~でしょうHọc một phần ở Minna
Minna dạy でしょう lên giọng để xác nhận (Bài 21) và でしょう để đoán “chắc là” (Bài 32). だろう là dạng thường của でしょう, cùng nghĩa, hay gặp trong văn viết, nhật ký và lúc nói một mình. Khi muốn thêm と思います, dạng chuẩn là だろう + と思います. でしょう tự nó đã mang ý “tôi nghĩ” và là đuôi lịch sự, nên thường để ở cuối câu chứ không lồng vào trước と思います.
Xem lại Minna bài 21Xem lại Minna bài 32
~みたいだ~ようだHọc một phần ở Minna
Minna Bài 47 dạy ようです: đoán dựa trên điều mình thấy, nghe hay cảm nhận. みたいだ cùng nghĩa nhưng là dạng văn nói, và nối khác: sau danh từ みたい đứng thẳng, còn ようだ cần の. Cả hai còn dùng để so sánh “giống như”, khi bổ nghĩa cho danh từ thì thành のような hoặc みたいな.
Xem lại Minna bài 47